Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thanh Hóa

Thông qua mô hình quản lý tài chính cho giáo dục địa phương của một số nước trên thế giới và quản lý chi NSĐP cho GDCL ở một số địa phương trong nướccho thấy, ở nước nào mà chi tiêu cho giáo dục công lập được quan tâm và quản lý chặt chẽ, phân cấp nguồn lực hợp lý theo hướng tăng cường nguồn lực cho chính quyền cơ sở… thì ở nước đó giáo dục phát triển (Hàn Quốc, Canada, Hoa Kỳ). Ngược lại, ở Thái Lan, quản lý giáo dục do nhiều cơ quan thực hiện (Bộ Giáo dục, Bộ Nội vụ) và nguồn lực tập trung chủ yếu ở trung ương, chất lượng giáo dục không đáp ứng được như kỳ vọng với chất lượng giảng dạy và năng lực học sinh thấp, tình trạng bất bình đẳng giáo dục ngày càng lớn. Từ đó, có thể rút ra một số bài học cho tỉnh Thanh Hóa trong quản lý chi NSĐP cho GDCL như sau:

Thứ nhất, về định mức phân bổ  NSĐP cho GDCL

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống định mức phân bổ NSĐP cho GDCL theo hướng gắn kinh phí phân bổ với kết quả thực hiện nhiệm vụ, có phân biệt giữa các loại hình cơ sở giáo dục dựa trên chất lượng và mục tiêu phát triển giáo dục của địa phương ở các khu vực có điều kiện KT-XH khác nhau. Định mức phân bổ NSĐP cho GDCL phải được xây dựng một cách phù hợp, đảm bảo hài hòa giữa nguồn lực và số lượng, chất lượng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các đơn vị ngành giáo dục, đảm bảo lợi ích cho các vùng khó khăn, các đối tượng yếu thế trong thụ hướng dịch vụ giáo dục. Đồng thời, đảm bảo tính khoa học, linh hoạt theo sự phát triển của KT-XH.

Thứ hai, về phân cấp quản lý chi NSĐP cho GDCL

Thực tiễn ở các nước và các địa phương cho thấy, nguồn lực ngân sách càng được phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương thì khả năng đáp ứng nhu cầu của người dân về dịch vụ giáo dục càng cao. Tăng cường phân cấp nguồn lực cho chính quyền địa phương tạo điều kiện cho các địa phương chủ động sắp xếp, lựa chọn các nhiệm vụ theo thứ tự ưu tiên phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, từ đó tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của người dân về dịch vụ giáo dục.

Phân cấp quản lý chi NSĐP cho GDCL cần tránh sự can thiệp quá sâu của chính quyền cấp tỉnh làm giảm tính chủ động, linh hoạt, tăng sự phụ thuộc của chính quyền cấp dưới. Phân cấp quản lý chi NSĐP cho GDCL phải phù hợp với phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục; đảm bảo rõ ràng và hài hòa về trách nhiệm, quyền hạn giữa các cấp chính quyền trong quản lý chi NSĐP cho GDCL vì sự phát triển chung của giáo dục địa phương.

Thứ ba, về quy trình quản lý chi NSĐP cho GDCL

Kế hoạch ngân sách giáo dục ở các nước được xây dựng dựa trên nguồn kinh phí đầu tư toàn xã hội và khả năng của từng trường, khối trường. Kế hoạch chi ngân sách cần lập rõ ràng, chi tiết, có thể do cơ quan chuyên trách tiến hành hoặc được thực hiện phối hợp giữa các cơ quan của Chính phủ. Tùy thuộc vào thể chế hành chính của mỗi nước mà có những cách thức lập kế hoạch ngân sách cho giáo dục riêng nhưng có điểm chung là lập kế hoạch theo trọng tâm, trọng điểm, không tập trung chia đều, ưu tiên phổ cập giáo dục tiểu học và những vùng khó khăn. Hầu hết các nước thực hiện cấp phát ngân sách cho giáo dục dựa trên số lượng học sinh, sinh viên tốt nghiệp (dựa trên số đầu ra). Vì vậy, cần phân bổ ngân sách Nhà nước cho từng lĩnh vực, từng đơn vị cụ thể, phân bổ ngân sách cần gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ, căn cứ vào kết quả đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục hoặc cơ quan kiểm định độc lập và xây dựng thang đo đánh giá chất lượng đào tạo cụ thể.

Phương pháp cấp phát được thực hiện qua cơ quan được Chính phủ ủy quyền, các đơn vị chủ quản có vai trò trong việc lập kế hoạch chi và kiểm tra, giám sát các khoản kinh phí. Các đơn vị thụ hưởng chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính từ NSNN.

Lập kế hoạch chi NSĐP cho GDCL cần được thực hiện một cách chặt chẽ, xác định các ưu tiên chi tiêu, phù hợp với mục tiêu phát triển ngành giáo dục trong từng thời kỳ cụ thể. Quá trình chấp hành dự toán cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý ngành giáo dục và các cơ quan quản lý có liên quan để thực hiện giám sát, đánh giá định kỳ, đánh giá giữa kỳ để định hướng chi tiêu, quản lý thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị SDNS.

Bình luận