Tăng cường trách nhiệm xã hội đối với người lao động gắn với tiến trình quản trị trong các doanh nghiệp

Các DN khi thực hiện bất kỳ một hoạt động nào đều quan tâm đến hiệu quả thực hiện hay mục tiêu đã đề ra. Muốn đạt được điều này cần phải thực hiện một cách bài bản, khoa học, hệ thống có nghĩa là có sự chuẩn bị (định hướng), chuẩn bị nguồn lực, tổ chức một cách khoa học, khuyến khích kịp thời, đánh giá thường xuyên. Bản chất đây là thực hiện công việc theo quá trình. Chẳng hạn, DN phải xác định xem mình muốn đạt được điều gì trước mắt và tương lai, để đạt được những kết quả mong muốn đó cần phải có những kế hoạch gì? và lập kế hoạch ra sao? Để thực hiện những kế hoạch cần này cần triển khai như thế nào? Phải có bộ máy, con người và xác định trách nhiệm, quyền hạn của những con người đó. Trên cơ sở đó sẽ tạo các điều kiện thuận lợi cho công tác triển khai thực hiện được thuận lợi.

Theo Nguyễn Ngọc Thắng (2015): “Ngày nay, nhiều DN coi TNXH như một hoạt động chính của doanh nghiệp và đang áp dụng phương pháp quản lý trách nhiệm xã hội như đối với hoạt động khác bao gồm sản xuất, nhân sự, tài chính và tiếp thị…”. Vì vậy, để TNXH đảm bảo quyền và lợi ích đạt được kết quả mong muốn, các nhà quản lý luôn cần quan tâm đến quản trị thực hiện TNXH đối với NLĐ từ khâu hoạch định, triển khai và kiểm soát. Quản trị thực hiện TNXH đối với NLĐ là một phức hợp các hoạt động, kỹ năng có tính hệ thống rất sinh động và phức tạp. Cho nên, cần phải thực hiện một cách đồng bộ các khâu này.

Ngoài ra, để TNXH đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ có tính khả thi và kinh tế thì cần phải: (i) Đảm bảo tính thống nhất và toàn diện. Thực hiện phải đảm bảo thống nhất từ nhận thức đến hành động. Đây là cơ sở đánh giá quyết tâm từ ý chí đến hành động của các DN may. Sự thống nhất xuất phát từ lãnh đạo đến trong tất cả các đơn vị, bộ phận trong DN. Tính toàn diện tức là phải thực hiện TNXH ở mọi cấp độ, mọi cung bậc từ đảm bảo quyền và lợi ích cho NLĐ. Nhưng điều này không có nghĩa là phải dàn trải, cào bằng mà cần xác định thứ tự ưu tiên cho các mục tiêu thực hiện trong từng giai đoạn phát triển của DN; (ii) Đảm bảo tính hợp tác và cân đối. Thực hiện cần có sự phối kết hợp từ lợi ích riêng của NLĐ như được đảm bảo quyền và lợi ích đến lợi ích chung của DN. Cần có sự hợp tác từ hoạch định thực hiện đến kiểm soát thực hiện để chia sẻ phân nhiệm vụ cho các đơn vị, bộ phận với sự sào luyện tương ứng. DN đảm bảo tính cân đối để quá trình thực hiện phát huy tối đa sức mạnh của DN. Cùng với sự phát triển của DN thì thực hiện TNXH cần mềm dẻo, tiến bộ phù hợp với tiến trình hội nhập TMQT; (iii) Đảm bảo tính linh hoạt và thích nghi. Lãnh đạo thực hiện không được bảo thủ, trì trệ mà luôn phải linh hoạt, thích ứng với những thay đổi hay biến động của môi trường. Điều này không đồng nghĩa với sự chi phối hoàn toàn của môi trường đến TNXH đối với NLĐ mà trong một chừng mực nào đó của nó sẽ thay đổi theo những hướng nhất định phù hợp với mục tiêu thực hiện của DN; (iv) Đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả. Hiệu quả và hiệu lực luôn là mục tiêu hướng tới của bất kỳ tổ chức nào trong thực hiện TNXH. DN phải tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất ở cấp cao nhất, phát huy được tính tích cực của bộ phận đơn vị phụ trách thực hiện TNXH khiến họ tận tâm, tận lực với công việc và phối hợp chặt chẽ với nhau.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận