Bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế dịch vụ trong vùng biển, đảo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (phần 1)

Thứ nhất, phát triển kinh tế dịch vụ nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương để phát triển kinh tế – xã hội. Do đó tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phải dựa vào thế mạnh của mình và nhu cầu của thị trường để khai thác tối đa khả năng, tiềm năng, lợi thế, tránh lãng phí, không trông chờ vào Nhà nước mà chủ động vươn lên đầu tư phát triển.

Thứ hai, tỉnh cần có các chính sách cởi mở hơn nhằm đa dạng hóa các hình thức dịch vụ như: Công ty, kết hợp quốc doanh và ngoài quốc doanh, liên kết dịch vụ trong nước và quốc tế, dịch vụ hộ gia đình, nhóm hộ; mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ, nhanh chóng hoàn thiện cơ chế kinh doanh dịch vụ trong xu hướng hội nhập nền kinh tế thế giới.

Thứ ba, tỉnh cần xác định một số lĩnh vực dịch vụ chủ yếu mang tính đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế dịch vụ như: Dịch vụ du lịch, dịch vụ hàng hải, dịch vụ cảng biển, dịch vụ logictics, dịch vụ tư vấn…tránh tình trạng đầu tư tràn lan, không trọng tâm, trọng điểm, không phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương.

Thứ tư, tỉnh cần tạo ra một số sản phẩm dịch vụ độc đáo, mang đặc trưng, bản sắc của địa phương, vùng miền – như, Lễ hội Cacnavan (Quảng Ninh), Bà Nà Hill, Lễ hội pháo hoa quốc tế (Đà Nẵng); Vinpearl, tuần lễ Văn hóa du lịch biển, đảo (Khánh Hòa)…, để du khách đến Bà Rịa – Vũng Tàu không chỉ tắm biển, nghỉ dưỡng mà còn được trải nghiệm, chiêm ngưỡng những giá trị vật chất, tinh thần lành mạnh.

Thứ năm, đầu tư vào công tác quy hoạch, xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng vật chất cho phát triển các dịch vụ trong vùng biển, đảo: Đảng và Nhà nước cần tập trung xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển, đảo một cách toàn diện, căn cơ, phù hợp với điều kiện của đất nước và xu hướng phát triển trên thế giới; cần nghiên cứu, quy hoạch, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cơ sở hạ tầng vật chất ở các vùng, miền và các địa phương ven biển, đảo như:

Tạo ra hành lang pháp lý cần thiết và cơ chế chính sách thông thoáng cho các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ hàng hải, dịch vụ cảng biển, dịch vụ du lịch như Singapore, Thái Lan; tập trung đầu tư xây dựng một số cảng quốc tế trọng điểm, trung tâm logistics ở ba miền như Hải Phòng, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu, đầu tư các trang thiết bị hiện đại, đầu tư nguồn lao động chất lượng cao để tạo ra một sự đột phá trong lĩnh vực dịch vụ cảng biển như Malaysia, Singapore, từng bước hoàn thiện hệ thống cảng biển, các cảng ở các đảo lớn, quần đảo, huyện đảo phục vụ cho vận tải biển nội địa, không nên đầu tư tràn lan, bình quân chủ nghĩa, chấm dứt ngay tình trạng các địa phương đua nhau xây cảng biển, gây nhiều lãng phí cho ngân sách nhà nước, làm ảnh hưởng đến các nguồn tài nguyên.

Quá trình thu hút nguồn lực để phát triển kinh tế biển, đảo đòi hỏi các ngành chức năng và địa phương cần phối hợp nghiên cứu, khảo sát tổng thể, xác định rõ tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng khu vực, đánh giá đúng, đủ các yếu tố tự nhiên cũng như xu thế phát triển.

Việc quy hoạch phải tính đến sự kế thừa, phát triển, tính liên kết giữa các vùng và các khu vực; phải gắn bờ, biển, đảo và quần đảo trong một không gian sinh tồn về kinh tế và quốc phòng. Vì vậy, nếu không khảo sát đầy đủ, đánh giá một cách khoa học thì kết quả sẽ thấp, thậm chí không mang lại hiệu quả mà còn phá vỡ tính cân bằng trong quá trình phát triển kinh tế biển, phá vỡ nhiều khu vực sinh thái ven biển, gây tác động tiêu cực đến việc bảo vệ an toàn vùng ven biển, đảo.

Ưu tiên xây dựng các trung tâm dịch vụ cảng biển và dịch vụ logictics, với quy mô ngang tầm với các nước trong khu vực ở cả miền Bắc, miền Trung và miền Nam, phát triển các loại hình dịch vụ mới hiện đại, chất lượng cao.

Đầu tư đóng mới, nâng cấp hệ thống tàu, thuyền, thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh có đủ khả năng vươn xa, kết hợp phát triển kinh tế với làm chủ biển, đảo; tập trung nguồn vốn, khoa học, công nghệ; hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, liên kết giữa nhà nước và tư nhân đóng mới, sửa chữa, nâng cấp các đội tàu, thuyền phục vụ vận tải hàng hải, đầu tư, hỗ trợ ngư dân nguồn vốn ưu đãi theo Nghị định 67/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận