Các chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam

Để thực thi được chính sách TTX cần xây dựng được chiến lược TTX. Chiến lược TTX cần thực hiện đồng bộ từ cấp quốc gia đến cấp doanh nghiệp. Chiến lược TTX chia thành các cấp độ sau: (1) cấp quốc gia; (2) cấp địa phương/thành phố; (3) cấp bộ/ngành; và (4) cấp doanh nghiệp. TTX được đặc biệt chú trọng ở các nước thuộc OECD như Canada, Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản… Các nước này đều có chiến lược quốc gia về TTX  và từ chiến lược quốc gia đó xây dựng chiến lược cho các thành phố/bang. Ở cấp ngành có nghiên cứu TTX cho ngành ôtô ở Nhật, TTX cho ngành Thép ở Đan Mạch; TTX cho các tập đoàn thiết bị điện tử ở Mỹ. Các doanh nghiệp cũng triển khai hoạt động theo hướng TTX từ các ngành trực thuộc. Ở Châu Á, Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu về xây dựng chiến lược TTX quốc gia [64]. Nhằm tạo điều kiện thúc đẩy TTX, chính phủ các nước OECD đã xây dựng các cơ chế, chính sách, các quy định nhằm hướng dẫn các ngành, doanh nghiệp triển khai TTX một cách dễ dàng và thuận lợi; trong đó tập trung vào việc tuân thủ các quy định về môi trưởng và xã hội. Tại Việt Nam đã có Chiến lược TTX quốc gia, chiến lược TTX các tỉnh. Ở cấp bộ/ngành, các bộ/ngành không xây dựng chiến lược TTX của bộ mà ban hành kế hoạch hành động của ngành trực thuộc bộ. Ở cấp doanh nghiệp, các doanh nghiệp Việt Nam cũng chưa xây dựng chiến lược TTX cho doanh nghiệp mà chỉ có các chương trình, hành động theo kế hoạch hành động của bộ/ngành chủ quản.

Tăng trưởng xanh cấp quốc gia

 Tại Việt Nam, năm 2012 Thủ tướng chính phủ ký QĐ 1393/QĐ-TTg/2012 về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về TTX [4] với những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược và phân công thực hiện cụ thể.

Giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội. Mục tiêu cụ thể bao gồm:

Để đạt được các mục tiêu TTX quốc gia thì ngoài việc thực hiện chiến lược TTX đồng bộ ở các cấp độ thì cần phải thực hiện tốt các hoạt động hỗ trợ sau:

Năm 2014, Thủ tướng chính phủ đã ký QĐ 403/QĐ-TTg/2014 về “Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020” [5] bao gồm 66 hoạt động. Kế hoạch hành động TTX bao gồm 4 chủ đề chính:

Tăng trưởng xanh cấp địa phương

Ở cấp độ thấp hơn ở các địa phương như Thành Phố Hà Nội đã có kế hoạch “Triển khai thực hiện chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 của Thành phố Hà Nội” [7] đề cập đến mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu cần triển khai thực hiện. Các thành phố khác cũng đều đã có những quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh về phê duyệt kế hoạch hành động thực hiện chiến lược TTX của tỉnh như Hải Phòng [8]; Thanh Hóa [9]…

Một số nội dung quan trọng trong triển khai kế hoạch hành động chiến lược TTX quốc gia của Thành phố Hà Nội:

(1) Giá trị sản phẩm ngành công nghệ cao, công nghệ xanh trong GDP là 42-45% trở lên;

(2) Giảm cường độ phát thải khí nhà kính: 8-10% (so với năm 2010); giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng khoảng 20% so với phương án phát triển bình thường;

(3) Diện tích cây xanh đô thị đạt 10-12m2/người;

(4) 100% số dân được sử dụng nước hợp vệ sinh, 80% dân số được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế; bình quân cấp nước đô thị đạt 150-180 lít/người/ngày đêm;

(5) 100% cơ sở sản xuất kinh doanh mới áp dụng công nghệ thân thiện môi trường hoặc trang bị các thiết bị xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; trên 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất và các cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng;

(6) Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải trong ngày ở nội thành đạt 100%, ngoại thành đạt trên 95%

(7) Xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung và cục bộ từ nay đến năm 2015 hoàn thành nhà máy xử lý nước thải Yên Sở, Bẩy Mẫu, Hồ Tây và 100% khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung; khu đô thị mới phải có hệ thống thu gom nước thải riêng và các trạm xử lý nước thải cục bộ;

(8) Vận tải hành khách công cộng đáp ứng 35-45% nhu cầu đi lại của nhân dân.

Các nhiệm vụ trọng tâm:

Bình luận