Thực trạng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU (Tham khảo)

Mặt hàng xuất khẩu

Xuất khẩu được coi là một trong những động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Những biến động về chính trị và kinh tế thế giới trong những năm vừa qua đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU vẫn phát triển tương đối tích cực và toàn diện.

Kim ngạch xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU được trình bày tại bảng 3.1.

Trong giai đoạn 2000 – 2016, xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU đã đạt được những kết quả tích cực. Xét về giá trị, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến đã tăng 12,7 lần từ 2.337,6 triệu USD năm 2000 lên 29.770,2 triệu USD năm 2016. Trong đó, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng như: thiết bị viễn thông, dệt may, da giầy. Từ năm 2000 đến năm 2010, nhóm hàng chế biến khác có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong số 4 nhóm hàng trên. Tuy nhiên, năm 2015 và năm 2016, nhóm hàng máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng chiếm ưu thế hơn. Nhóm hàng hoá chất và sản phẩm liên quan có kim ngạch xuất khẩu thấp nhất.

Số liệu tại bảng trên cho ta thấy, cơ cấu xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang EU có xu hướng chuyển dịch từ nhóm hàng chế biến khác sang nhóm hàng máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng. Trong giai đoạn 2000 – 2016, tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng chế biến khác giảm dần từ 86,91% xuống 37,32%; tỷ trọng nhóm hàng máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng có chiều hướng tăng từ 5,87% lên 56,95%.

Tổc độ tăng trưởng xuất khẩu: Tốc độ tăng trưởng trong xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU được trình bày tại bảng 3.3.

Mặc dù chưa thoát khỏi những hệ lụy về suy thoái kinh tế toàn cầu cũng như những bất ổn về kinh tế của EU nhưng tăng trưởng trong xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang EU khá vững chắc. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2000 – 2016. Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 cao hơn giai đoạn 2000-2005 nhưng không đáng kể.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính, từ năm 2010 xuất khẩu của Việt Nam đã phục hồi nhanh chóng, duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Trong giai đoạn 2010-2016, quan hệ thương mại của Việt Nam và EU tiếp tục phát triển và mở rộng. So với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thế giới, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU cao hơn trong giai đoạn 2010-2016 với mức tăng trưởng trung bình là 23,01%/năm.

Xét riêng từng nhóm mặt hàng, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng luôn giữ được mức tăng trưởng cao nhất trong các giai đoạn 2005-2010, giai đoạn 2010 – 2016 và cả giai đoạn 2000-2016 với mức tăng trưởng bình quân đạt 35,13%/năm. Còn lại các nhóm mặt hàng khác có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không ổn định, biến động theo từng thời kỳ. Nhóm hàng chế biến khác có tốc độ tăng trưởng bình quân thấp nhất là 11,2%/năm trong giai đoạn 2000-2016.

Có được những kết quả ấn tuợng trên trong xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang EU xuất phát từ việc ký kết Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) giữa EU và các nước thành viên với Việt Nam và Đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA). Hiệp định EVFTA đã chính thức kết thúc đàm phán vào tháng 12/2015, được coi là hiệp định thế hệ mới, có ý nghĩa lớn trong quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên EU bởi nền kinh tế của hai bên có tính bổ sung cao, ít cạnh tranh trực tiếp.

Mặt hàng xuất khẩu chủ lực: Bảng 3.4 trình bày 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường EU.

Qua bảng 3.4 ta thấy SITC-7643 – Thiết bị truyền dẫn TV/radio là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU. Nếu như trong năm 2000 tỷ trọng của mặt hàng này chỉ chiếm dưới 1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU thì năm năm 2016 tỷ trọng của mặt hàng này đã tăng lên 38%. Tỷ trọng của 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chiếm trên 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU. Đồng thời tỷ trọng này đang có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây. Điều này cho thấy cơ cấu xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU đang có xu hướng chuyển dịch theo hướng chuyên môn hóa. Như vậy, xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU phụ thuộc khá nhiều vào 10 mặt hàng chủ lực này, đặc biệt là mặt hàng SITC-7643.

Đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu: Mức độ đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu có thể được phân tích thông qua chỉ số Gini-Hirschman (GH). Như đã trình bày ở phần trên, chỉ số GH có giá trị từ 0 đến 1, với giá trị 0 thể hiện mức độ đa dạng hóa hoàn toàn (xuất khẩu tất cả các mặt hàng với giá trị như nhau) và giá trị 1 thể hiện mức độ chuyên môn hóa hoàn toàn (chỉ xuất khẩu một mặt hàng).

Qua bảng trên ta thấy, xuất khẩu hàng chế biến của Việt Nam sang thị trường EU có xu hướng chuyển từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa. Điều này thể hiện mức độ phụ thuộc vào một nhóm hàng hóa tăng lên. Nhóm hàng SITC-5, SITC-6, SITC-8 là các nhóm hàng có xu hướng đa dạng hóa. Trong khi đó, nhóm hàng SITC-7 lại là nhóm hàng có mức độ chuyên môn hóa tăng dần. Điều này cho thấy, trong số các mặt hàng xuất khẩu thuộc nhóm SITC-7, Việt Nam có xu hướng tập trung hơn vào xuất khẩu một số mặt hàng.

Mức độ đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu sử dụng chỉ số GH có một hạn chế đó là chỉ số này không đánh giá được mức độ đa dạng hóa giữa các nhóm hàng. Để khắc phục hạn chế này thì việc sử dụng một chỉ số có thể đánh giá được mức độ đa dạng hóa giữa các nhóm hàng và giữa các mặt hàng trong từng nhóm là cần thiết. Kết quả tính toán mức độ đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu sử dụng chỉ số Theil Entropy được trình bày tại bảng dưới đây.

Chỉ số Theil Entropy có xu hướng biến động tăng giảm qua từng giai đoạn. Mức độ đa dạng hoá thể hiện rõ nhất ở giai đoạn 2000 -2005 với chỉ số Theil Entropy cao nhất là 2,6. Chỉ số này giảm đi ở giai đoạn 2006-2010 là 2,08 và tăng lên ở giai đoạn 2011-2015 với mức 2,37. Trong đó, chỉ số đa dạng hoá theo chiều rộng biến thiên từ 1,63 trong giai đoạn 2000 -2005 xuống còn 1,33 trong giai đoạn 2006-2010 và tăng lên 1,91 ở giai đoạn 2011-2015. Chỉ số đa dạng hoá theo chiều sâu có xu hướng giảm nhanh và mạnh. Như vậy, có thể thấy rằng, thời gian qua mức độ đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu (hàng chế biến) của Việt Nam chủ yếu là đa dạng hoá theo chiều rộng. Đóng góp của đa dạng hoá theo chiều sâu ngày càng hạn chế, đặc biệt tỷ lệ đóng góp thấp ở mức 0,46 (tương đương 19,4%) trong giai đoạn 2011-2015.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận