Kinh nghiệm quốc tế đối với ngành điện niêm yết Malaysia

Nghiên cứu được thực hiện bởi Mazila Md-Yusuf và cộng sự [36] trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn của các DN sản xuất điện niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia. Nghiên cứu này có mục tiêu là điều tra xem liệu sự lựa chọn về cơ cấu nguồn vốn của các DN sản xuất lĩnh vực sản xuất điện tại Malaysia có thể được giải thích bởi các nhân tố bên trong DN hay không. Các nhân tố được nghiên cứu bao gồm: (i) quy mô DN; (ii) khả năng sinh lời; (iii) cấu trúc tài sản hữu hình; (iv) khả năng thanh khoản; (v) triển vọng tăng trưởng. Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 1997-2011 với mô hình sử dụng trong nghiên cứu là mô hình hồi quy đa biến với phương pháp ước lượng sử dụng là phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS).

Ngành điện tại Malaysia được phân loại thành lĩnh vực sản xuất điện năng và lĩnh vực phân phối điện năng. Trên thị trường chứng khoán Bursa tại Malaysia có 48 doanh ngiệp niêm yết hiện đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và phân phối điện năng. Tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào các DN sản xuất điện năng. Bởi vậy, trong số 48 DN nghiên cứu nghiên cứu chỉ lựa chọn 32 DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất điện năng trong giai đoạn 1997-2011. Tuy nhiên, quy mô mẫu bị điều chỉnh giảm xuống còn 11 DN trong lĩnh vực sản xuất điện năng do thị trường chứng khoán Bursa yêu cầu các DN phải niêm yết trên thị trường với thời gian 15 năm. Dữ liệu thu thập của nghiên cứu được thực hiện từ bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của 11 DN sản xuất điện năng trong giai đoạn 1997-2011. Dữ liệu được chiết xuất từ hệ thống cơ sở dữ liệu OSIRIS. Tất cả kết quả ước lượng được thực hiện bởi việc sử dụng phần mềm thống kê Eviews 7.0.

Nghiên cứu sử dụng hệ số nợ vay làm biến đại diện cho cơ cấu nguồn vốn của DN. Nợ vay trong nghiên cứu này bao gồm nợ vay ngắn hạn và nợ vay dài hạn. Biến này sẽ phản ánh khả năng đáp ứng nghĩa vụ nợ của DN và thường được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm.

Các biến độc lập được sử dụng bao gồm:

Mô hình kinh tế lượng được sử dụng trong nghiên cứu là:

DRit = b0+ b1*SIZEit + b2*PROFit + b3* TANGit + b4* GROWit + Sit

Trong đó:

Kết quả thống kê mô tả về các biến nghiên cứu được thể hiện dưới Bảng

1.3 dưới đây:

Nghiên cứu này cố gắng tìm kiếm các nhân tố quyết định đến cơ cấu nguồn vốn của các DN sản xuất điện năng niêm yết trên thị trường chứng khoán Bursa tại Malaysisa trong giai đoạn 1997-2011. Quá trình nghiên cứu được thực hiện bằng việc sử dụng ước lượng bình quân nhỏ nhất (OLS). Nghiên cứu này sử dụng hệ số nợ vay, mà đóng vai trò như thước đo đòn bẩy tài chính là biến được giải thích trong khi đó quy mô DN, khả năng sinh lời, tính hữu hình của tài sản, khả năng thanh khoản và cơ hội tăng trưởng đóng vai trò là biến giải thích. Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, quy mô DN, khả năng sinh lời, tính hữu hình của tài sản và triển vọng tăng trưởng có mối quan hệ thuận chiều đối với hệ số nợ trong khi đó khả năng thanh khoản có mối quan hệ ngược chiều đối với hệ số nợ. Mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô DN, khả năng tăng trưởng và tính thanh khoản của của tài sản phù hợp với lý thuyết đánh đổi hơn so với lý thuyết trật tự phân hạng. Mặt khác, mối quan hệ ngược chiều trong khả năng thanh khoản và thuận chiều trong cơ hội tăng trưởng phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng và mâu thuẫn với lý thuyết đánh đổi.

Chia sẻ bài này với bạn bè

Bình luận