Những điểm hạn chế trong tổ chức bộ máy quản lý thuế và ứng dụng CNTT TNCN

Trong giai đoạn 2010-2018 thì mô hình tổ chức bộ máy thu thuế theo hướng tập trung sử dụng nguồn lực, cán bộ có chuyên môn sâu về thuế TNCN để tăng cường công tác quản lý thuế. Tuy nhiên, mô hình này cũng gây ra sự chồng chéo về chức năng quản lý giữa các phòng ban, không phát huy hết hiệu quả của các phòng ban khác. Ngoài ra, nếu mở rộng đối tượng NNT do phát sinh thêm nhiều đối tượng NNT có thu nhập tăng thêm từ việc hội nhập kinh tế quốc tế (kinh doanh online Facebook) sẽ dẫn tới làm gia tăng khối lượng công việc, trong khi nguồn lực vật chất và con người với mô hình quản lý hiện tại chưa có sự hỗ trợ nhiều của các phần mềm quản lý cũng như giao dịch trực tuyến sẽ dẫn tới không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn đặt ra.
Vì vậy, để tăng cường hiệu quả quản lý thuế TNCN tại TP.HCM trong bối cảnh hội nhập, cần bố trí, cơ cấu lại tổ chức bộ máy của Cục thuế, để tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý thuế.
Giai đoạn 2010 – 2012, hệ thống thông tin về NNT chưa hoàn chỉnh với số lượng đối tượng lớn, do đó cần phải có thêm phần mềm quản lý để theo dõi tình trạng kê khai nộp thuế, quyết toán thuế, tình hình nợ đọng của các cá nhân. Việc chấp hành kê khai và quyết toán thuế của các cá nhân có thu nhập cao làm việc tại nhiều nơi còn rất hạn chế. Việc cá nhân tự giác kê khai thuế, quyết toán thuế chủ yếu do gắn liền với lợi ích của họ như hoàn thuế, xác nhận tình trạng thuế, các trường hợp đề nghị xét miễn giảm. Chưa có quy chế phối hợp trao đổi thông tin, khai thác dữ liệu của các tổ chức, cá nhân giữa phòng TNCN với các phòng kiểm tra và phòng kê khai, kiểm tra thuế. Các bước trao đổi, phân tích dữ liệu tốn nhiều thời gian, ảnh hưởng tiến độ của công tác kiểm tra. Hạn chế này là do chưa có phần mềm quản lý NNT, việc lưu trữ thông tin và khai thác dữ liệu phải sử dụng phương pháp thủ công trên bảng tính Excel, nên không thể kết nối dữ liệu về các khoản thu nhập chịu thuế, không theo dõi và tổng hợp được số thuế TNCN phát sinh, nợ đọng theo định kỳ. Công tác quản lý nợ chưa thật sự chặt chẽ do số lượng hồ sơ quản lý của từng cán bộ công chức là rất lớn, kèm theo không có phần mềm tính thuế và theo dõi nợ đọng cho từng đối tượng nộp thuế, việc quản lý chủ yếu bằng thủ công nên chưa theo dõi chính xác số thuế nợ đọng của từng cá nhân. Mặt khác, nguyên tắc chung của thuế TNCN là khấu trừ tại nguồn, nên cá nhân có thể được khấu trừ thuế tại nhiều nơi, và nhận chứng từ khấu trừ, cuối năm thực hiện quyết toán tại cơ quan thuế nên việc xác định nợ đọng cho từng cá nhân tại một nơi là không chính xác.
Giai đoạn 2013 – 2018, hệ thống thông tin về NNT, ứng dụng thuế TNCN (PIT) về cơ bản tích hợp đầy đủ các thông tin và thu nhập của NNT. Tuy nhiên, thời gian vận hành chưa nhiều do đó các ứng dụng này vẫn còn chưa phát huy hết hiệu quả tích cực, chưa là công cụ đắc lực để hỗ trợ các công chức trong việc khai thác số thu thuế TNCN.

Chia sẻ bài này với bạn bè

1 Trả lời to "Những điểm hạn chế trong tổ chức bộ máy quản lý thuế và ứng dụng CNTT TNCN"

Bình luận